Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Biểu hiện bệnh vàng da ở trẻ em


Bệnh vang da ở trẻ sơ sinh

Bác sĩ cho tôi hỏi cháu nhà tôi sinh được hơn một tháng rồi nhưng giờ cháu vẫn chưa hết vàng da . Khi cháu được gần một tháng tôi đã cho cháu đi khám tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện và được bác sĩ khoa nhi chuẩn đoán là cháu bị vàng da sinh lý kéo dài nhưng ko vấn đề gì và bác sĩ dặn về tắm nước lá cây dành dành vài buổi là hết . Tôi đã làm như vậy và thấy cháu đỡ vàng hợn Nhưng từ hôm tôi cho cháu đi tiêm phòng viêm gan B mũi một về thì tôi lại thấy cháu vàng hơn . Vậy tôi phải làm gì để cháu hết vàng da và cháu nhà tôi bị như vậy có ảnh hưởng gì tới sức khỏe không ạ ? xin chân thành cảm ơn bác sĩ !

Trả lời: 
Vàng da sinh lý xảy ra với hầu hết trẻ mới sinh, thường xuất hiện từ ngày thứ 2 sau khi sinh. Trẻ vẫn ngoan, ăn ngon, ngủ tốt: Nước tiểu và phân vàng, mỗi ngày trẻ đi từ 2 đến 3 lần. Đến ngày thứ 10 – 15 da tự hết vàng mà không phải điều trị. Vàng da sinh lý không ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ và không gây nguy hiểm. Trẻ bị vàng da sinh lý là do khi nằm trong bụng mẹ, cơ thể trẻ có lượng hồng cầu cao (khoảng 5 – 6 triệu hồng cầu/mm3). Khoảng 2 ngày sau sinh, khi trẻ đã có thể tự thở tốt được, lượng hồng cầu thừa bị vỡ hàng loạt làm tăng chất bilirubin trong máu. Chất bilirubin này được chuyển về gan, chuyển hoá ở đó rồi được thải ra ngoài qua đường bài tiết, da trẻ sẽ hết vàng. Ngoài nguyên nhân hồng cầu bị vỡ, trẻ mới sinh bị vàng da còn có thể do trong sữa mẹ có nhiều beta caroten (tiền tố vitamin A) vì chế độ ăn hằng ngày của người mẹ có quá nhiều rau xanh hoặc hoa quả có màu như cà rốt, đu đủ.
Một số phương pháp điều trị bệnh vàng da
Chiếu đèn:
Được chỉ định đối với trẻ (có cân nặng trên 2,5kg) có nồng độ bilirubin trong máu vào ngày thứ nhất: 40mg/l; ngày thứ 2: 130mg/1; ngày thứ 3: 160mg/l.
Dùng nguồn ánh sáng mầu xanh dương từ bóng đèn compact, hallogen tác động lên các phân tử bilirubin ở dưới da trẻ. Các phân tử này bị biến thành các dạng đồng phân quang học, không độc, tan trong nước, dễ dàng được thải qua nước tiểu. Chiếu đèn liên tục từ 3 – 15 ngày, tuỳ theo mức độ của bệnh. Có thể cho trẻ chiếu đèn trong lồng ấp, giữ nhiệt độ từ 30 – 32oC. Cân nặng của trẻ càng thấp, nhiệt độ trong lồng ấp càng cao.
Lưu ý khi chiếu đèn: cần cho trẻ uống thêm nước, bú nhiều để bổ sung nước cho cơ thể. Hoặc truyền thêm dung dịch đường 10%.
Làm gì khi trẻ bị vàng da 
Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh có thể dễ dàng quan sát bằng mắt thường ở nơi có đủ ánh sáng: cạnh cửa sổ, ngoài hành lang… Trong trường hợp khó nhận biết như da trẻ đỏ hồng hoặc đen, nên dùng đầu ngón tay ấn nhẹ lên da trẻ trong vài giây, sau đó bỏ tay ra.
- Nếu trẻ bị vàng da ở mức độ nhẹ có thể điều trị tại nhà bằng cách tắm nắng: đặt trẻ gần cửa sổ nơi có ánh nắng dịu của mặt trời (vào khoảng 8 giờ đến 8 giờ 30 mỗi sáng).
- Cho trẻ bú nhiều lần trong ngày vì sữa mẹ giúp đào thải nhanh chất bilirubin qua đường tiêu hoá.
- Hằng ngày, cần theo dõi các vùng lan rộng của bệnh vàng da và các triệu chứng xuất hiện kèm theo. Theo dõi liên tục trong vòng 7 – 10 ngày sau sinh. Cần đưa ngay trẻ đến khám bác sĩ trong trường hợp:
- Bú ít hơn một nửa so với bình thường.
- Nước tiểu trong.
- Ngủ nhiều.
- Vàng da xuất hiện sớm, trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
Vàng da lan đến bàn tay, bàn chân.
Vàng da kéo dài trên 15 ngày.
Theo chúng tôi, bạn nên đưa bé đi khám để được tư vấn sau quá trình thăm khám trực tiếp.
Xem thêm các chủ đề khác:

Xử trí khi bị buồn nôn


Buồn nôn và nôn không phải là một bệnh mà là triệu chứng biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau. Buồn nôn, nôn, có thể chỉ là hiện tượng sinh lý hoặc một phản xạ nhưng nhiều trường hợp là biểu hiện bệnh lý, thậm chí là bệnh lý nguy hiểm.
Nguyên nhân gây buon non, nôn
Buồn nôn và nôn đều do hệ thống thần kinh trung ương chi phối. Nhiều trường hợp nôn không có thức ăn do dạ dày đã hết thức ăn hoặc do nôn nhiều nên dạ dày đã rỗng mà chỉ toàn nước hòa lẫn với dịch vị hoặc chỉ nôn mà không có gì cả (nôn khan).
Buồn nôn hoặc nôn có khi chỉ là hiện tượng sinh lý, như: nôn ở phụ nữ đang mang thai (thường gặp ở giai đoạn 3 tháng đầu). Một số trường hợp khi nhìn thấy chất bẩn hoặc ngửi thấy mùi tanh, hôi hoặc nhìn thấy thức ăn không phù hợp với cảm nhận của mình (rối loạn do ăn, uống) là bị buồn nôn và nôn hoặc say tàu xe. Một số người rất ngại uống thuốc, vì vậy khi nhìn thấy thuốc sắp đưa vào miệng là cảm giác buồn nôn hoặc khi cho thuốc vào miệng là nôn ngay…
 Buồn nôn đôi khi là dấu hiệu nguy hiểm
Tuy vậy, buồn nôn hoặc nôn gặp khá nhiều trong một số bệnh lý, đặc biệt là bệnh về đường ruột. Bệnh về đường ruột gây buồn nôn hoặc nôn có nhiều loại bệnh khác nhau như bệnh của dạ dày – tá tràng. Bệnh của dạ dày tá tràng cũng rất đa dạng như: viêm, loét, hẹp môn vị. Trong những trường hợp viêm cấp tính thường có buồn nôn hoặc nôn. Hẹp môn vị cũng là bệnh gây buồn nôn và nôn do ứ đọng dịch vị kích thích niêm mạc dạ dày gây buồn nôn và nôn. Hẹp môn vị có thể do viêm cấp, hoặc do tổn thương thực thể như bị loét gây co kéo, hoặc do chèn ép, do chảy máu bởi vết loét…). Bệnh về đường ruột cũng có thể là viêm ruột cấp do ngộ độc thức ăn hoặc do như tắc ruột, viêm ruột thừa hoặc bị bị chèn ép do khối u (u manh tràng, lao phúc mạc, lao ruột…). Bệnh tắc ruột, viêm ruột thừa là những bệnh mà buồn nôn và nôn là những triệu chứng thường hay gặp, với các bệnh này mà không phát hiện sớm và xử lý kịp thời thì rất nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh. Bệnh về đường mật như viêm đường dẫn mật, sỏi đường dẫn mật (sỏi đường mật trong gan, ống mật chủ, sỏi cổ túi mật, sỏi túi mật…) hoặc bệnh về tuỵ tạng như viêm tuỵ cấp, u đầu tuỵ cũng có khả năng gây buồn nônhoặc nôn.
Một số bệnh như rối loạn tiền đình, rối loạn tuần hoàn não, viêm não, u não cũng gây buồn nôn, nôn. Ngoài ra, người ta thấy có một số trường hợp dùng thuốc có tác dụng phụ cũng gây buồn nôn hoặc nôn thực sự, như thuốc dùng trong điều trị ung thư, thuốc gây tê, thuốc gây mê. Người uống rượu, bia cũng bị hiện tượng này nhất là lúc uống quá nhiều do cồn có trong bia rượu khi vào dạ dày đã tạo thành chất gây buồn nôn, nôn hoặc do niêm mạc dạ dày bị kích thích quá mạnh gây viêm cấp cũng gây buồn nôn và nôn.
Khi bị buồn nôn nên làm gì?
Hiện tượng nôn, buồn nôn ở nhiều trường hợp khác nhau có khi chỉ là đơn thuần nhưng không ít trường hợp là trọng bệnh, nhất là buồn nôn và nôn trong các bệnh ngoại khoa như viêm ruột thừa, rò rỉ đường dẫn mật do viêm hoặc do sỏi gây viêm phúc mạc, tắc ruột, u nang buồng trứng vỡ, chửa ngoài dạ con… hoặc một số bệnh gây buồn nôn như viêm màng não – não, u não… Đặc biệt, khi trẻ em bị nôn thì người lớn không được xem thường mà phải hết sức cảnh giác. Nếu trẻ buồn nôn hoặc nôn bất thường cần được đến ngay cơ quan y tế gần nhất lớn đến tính mạng.
Những trường hợp buồn nôn, nôn gặp ở bệnh nguy hiểm hoặc ở bệnh không nguy hiểm cũng để lại hiện tượng mất nước và chất điện giải gây rối loạn vận mạch và nhiều hệ luỵ khác nữa. Những trường hợp buồn nôn hoặc nôn không phải thuộc bệnh ngoại khoa thì nên được bù nước và chất điện giải, nếu không uống được (do bị nôn) thì cần được truyền dịch. Tuy vậy có phải truyền dịch hay không và truyền như thế nào phải do bác sĩ khám bệnh quyết định. Tuyệt đối không truyền dịch tại gia đình hoặc ở một số phòng khám tư nhân không đủ điều kiện cấp cứu.
Nếu phụ nữ đang mang thai có buồn nôn hoặc nôn (do nghén) thì nên đi khám bác sĩ chuyên khoa sản để được tư vấn và có can thiệp kịp thời. Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu nếu dùng một số loại thuốc chống nôn, phải được bác sĩ sản khoa khám, kê đơn và theo dõi chặt chẽ.
xem thêm các chủ đề:

Lạm dụng rượu


Chuyên đề: Nghiện rượu
“Một món ăn vừa có thể là một liều thuốc bổ và cũng có thể là một thuốc độc. Sự khác biệt chỉ đơn giản là liều lượng”.
Rượu với những liều lượng vừa phải là một chất kích thích thần kinh, đem lại cho người uống cảm giác khoan khoái dễ chịu quên đi những khó khăn vất vả trong cuộc sống. Vì vậy rượu được dùng hàng ngày và trong các dịp lễ tết, hội hè ở nhiều dân tộc trên thế giới. Việc uống rượu thường xuyên hay uống để tuân thủ các tập tục trong giao tiếp, lễ nghi… dễ trở thành lạm dụng rượu và nghiện rượu.


* Thế nào là lạm dụng rượu?

Một người uống rượu chưa hẳn đã nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại đến sức khỏe của họ. Vậy là uống rượu để vô tình hay chỉ là để tuân thủ tập tục, gây hại cho sức khỏe của mình, những trường hợp như thế được coi là lạm dụng rượu (Alcohol abuse). Việc nhận thức được ý nghĩa này, thực chất là nhằm ngăn chặn sớm tác hại của rượu, nâng cao cảnh giác cho mọi người trong cộng đồng nhiều khi vì thói quen, tuân thủ tập tục, dễ dàng biện hộ cho những hành vi mang tính chất lễ nghi, quên mất rằng mình đang “lạm dụng rượu” trong giao tiếp, hội hè.
Việc đánh giá lạm dụng rượu thông qua hậu quả về sức khỏe của chính bản thân đối tượng như: hiện tượng ngộ độc rượu cấp (say rượu thông thường và say rượu bệnh lý), hậu quả về bệnh cơ thể, hiện tượng khó chịu mệt mỏi.
Phương thức sử dụng có hại được đánh giá bởi những người xung quanh như hiện tượng gây rối trật tự gia đình, chống đối xã hội ở những mức độ khác nhau.
* Tác hại tức thì khi uống rượu
- Mất khả năng kiềm chế để giữ gìn ý tứ.
- Giảm hoặc mất khả năng điều phối hoạt động (Phản ứng chậm chạp, đờ đẫn, loạng choạng…).
- Giảm khả năng nhận thức giác quan (nhìn, nghe, ngửi) do đó dẽ bị tai nạn, va chạm trong sinh hoạt.
- Suy yếu chức năng đại não và hoạt động bền bỉ của hệ thần kinh, do đó dễ mệt mỏi hoặc hung hăng, cục cằn không kìm chế được.
* Tác hại lâu dài của rượu
- Giảm hoặc mất sự thèm ăn uống.
- Thiếu vitamine do không hấp thu được, đặc biệt là các vitamine nhóm B, dẫn đến viêm đa dây thần kinh, hay uể oải mệt mỏi, thiếu sinh lực.
- Viêm loét niêm mạc dạ dày.
- Tổn thương thoái hóa gan, xơ gan, viêm tụy cấp.
- Bệnh lý tim mạch.
- Thoái hóa, suy đồi nhân cách (vị kỷ, thô lỗ, buông lơi trách nhiệm với gia đình và xã hội).
- Rối loạn nội tiết (giảm khả năng tình dục) ; rối loạn chuyển hóa (bệnh gút).
- Ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi.
* Thế nào là nghien ruou?
Nghiện rượu theo ý niệm xã hội là sự thèm muốn mạnh mẽ dẫn đến đòi hỏi thường xuyên phải uống rượu, đưa đến rối loạn tư cách, thói quen, khả năng lao động và giao tiếp xã hội; ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe và sự thoải mái của cộng đồng cũng như sự hao tổn về mặt kinh tế.
Còn nghiện rượu trong ý nghĩa y học là một loại bệnh, xếp trong nhóm bệnh lý nghiện chất, được mã hóa trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi. Một người được coi là nghiện rượu khi có 3 trong 6 biểu hiện sau:
1. Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải có rượu.
2. Khó khăn kiểm tra về thời gian bắt đầu uống và kết thúc uống cũng như mức độ uống hàng ngày.
3. Khi ngừng uống rượu thì xuất hiện hội chứng cai, cụ thể: lo âu, vã mồ hôi, trầm cảm, cáu bẳn…và bệnh nhân có ý định uống rượu trở lại để né tránh hoặc giảm nhẹ hội chứng cai.
4. Có bằng chứng về lượng rượu uống ngày càng tăng (khả năng dung nạp).
5. Sao nhãng những thú vui trước đây, dành nhiều thời gian để tìm kiếm rượu, uốngrượu.
6. Vẫn tiếp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu gây ra.
Thực tế, phong tục uống rượu ở nước ta có từ lâu trong các dịp lễ tết…Những năm gần đây, rượu được sử dụng một cách rộng rãi trong cả ngày thường. Nhiều người coi rượu là một chất bổ dưỡng, kích thích tiêu hóa, một phương thức để giao tiếp, họ sử dụng thường xuyên thực chất là lạm dụng rượu, lâu ngày dẫn đến nghiện rượu. Rượu ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý lứa tuổi thanh niên, phát sinh các tệ nạn xã hội, làm giảm sút kết quả lao động, học tập, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và nòi giống dân tộc. Rượu cũng đã làm giảm sút tư cách, ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ công chức trong nhân dân. Sự gia tăng nhanh loạn thần do rượu trong những năm gần đây là một chỉ số cảnh báo tình trạng lạm dụng rượu và nghiện rượu trong cộng đồng cần có biện pháp can thiệp sớm nhằm ngăn chặn kịp thời các tác hại của rượu.
H.T.M có một sự khởi đầu mà ai cũng phải ao ước. Tốt nghiệp đại học loại ưu chuyên ngành quản trị kinh doanh, anh nhanh chóng được nhận vào làm tại một doanh nghiệp tầm cỡ tại Hà Nội. Cùng với năng lực và sức trẻ của mình, anh nhanh chóng thăng tiến. Công việc mang lại cho anh những phương tiện, tiện nghi trong cuộc sống và những cuộc chiêu đãi gần như bất tận. Và cũng không biết tự bao giờ anh quen dần với việc phải có “tí men” trong người thì mới làm được việc. Từ việc sử dụng rượu như một nghi lễ trong giao tiếp, anh dần lạm dụng rượu và nghiện rượu lúc nào không hay và anh bị buộc phải thôi việc. Hiện tại, anh đang được cai rượu tại một bệnh viện ở Hà Nội.
Chuyên mục khác:

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

6 ưu điểm của liệu pháp miễn dịch tế bào gốc


Biểu hiện bệnh gan: Buồn nônvàng da

1.     Không cần uống thuốc hay làm phẫu thuật – càng triệt để: chủ yếu nhằm vào vị trí trung tâm đáp ứng miễn dịch của cơ thể và mắt xích then chốt, sử dụng các thành phần có tính hoạt động nhất của miễn dịch tập thể để huy động đầy đủ chức năng miễn dịch, do đó có thể tiêu diệt virut viêm gan một cách chính xác, khiến cho bệnh tình của bệnh nhân được chuyển biến rõ rệt .
2.     Sản sinh trí nhớ dài hạn – hiệu quả càng lâu: liệu pháp này có hiệu ứng trí nhớ lâu dài đối với tế bào sát thương miễn dịch tính đặc biệt (CTL) của HBV, có thể ngăn chặn được virut tái phát.
3.     Mục tiêu nhằm loại bỏ virut có– hiệu quả càng cao: miễn dịch tế bào đặc biệt có thể loại bỏ được virut viêm gan C và virut viêm gan B có trong tế bào gan, ngăn chặn một cách có hiệu quả tiến trình xơ hóa gan và xơ gan.
4.     Cho vào tế bào tự thân – càng an toàn: tế bào có tua (DC) được cho vào lấy từ người bệnh, không có phản ứng bài trừ, tính an toàn cao, không có tác dụng phụ.
5.     Chẩn đoán điều trị cá thể hóa – càng chính xác: chuyên tấn công virut viêm gan B và virut viêm gan C, không có bất kỳ ảnh hưởng gì tới các tế bào bình thường và các tổ chức tập thể khác.
6. Chi phí điều trị thấp – càng có lợi cho người bệnh: liệu pháp miễn dịch tế bào có tua (DC) không đắt như cấy ghép gan, chi phí cho liệu pháp này tương đối thấp.
Xem thêm các thông tin khác:

Đặc điểm của công nghệ tế bào gốc


Biểu hiện bệnh gan: buồn nônvàng danghiện rượu

1.     Công nghệ tế bào gốc điều trị gan không có tác dụng phụ
Do trong điều trị tế bào được cho vào là tế bào của người bệnh, vì vậy sẽ không có phản ứng bài trừ. Theo như các chuyên gia giới thiệu, công nghệ tế bào soma trong quá trình loại bỏ virut, con đường tế bào không hòa tan có tác dụng chủ đạo, cũng chính là CTL chỉ là tiêu diệt virut trong tế bào mục tiêu, không làm tổn hại tới tế bào mục tiêu. Do vậy, tế bào gan bình thường của người bệnh sẽ không bị tổn hại, men gan đa số không bị tăng cao, hoặc khi loại bỏ virut loại hình tổng hợp và khuân mẫu sao chép cccDNA sẽ gây tổn thương tính miễn dịch độ nhẹ, lúc này men gan sẽ tăng cao biên độ nhỏ, nhưng đây là phản ứng miễn dịch bình thường, là hiện tượng loại bỏ virut, và sẽ hồi phục trong thời gian ngắn, người bệnh hoàn toàn không phải lo lắng.
2.     Tính lâu dài và tính hiệu quả của điều trị gan bằng tế bào gốc
Đáng chú ý là: tế bào hiệu ứng T có tác dụng sát thương cực mạnh đối với tế bào mục tiêu mang kháng nguyên đặc biệt, đồng thời nó cũng có tác dụng miễn dịch rất tốt, còn có thể điều tiết tế bào miễn dịch khác, đặc biệt là chức năng tế bào B.
Tế bào T ký ức có tuổi thọ dài không ngừng tuần hoàn trong máu, khi nólại gặp phải kháng nguyên đã từng tiếp xúc, cho dù cách mấy năm vẫn có thể “phân biệt”. Khi tiếp xúc vơi thể kháng nguyên lần 2 có thể kích thích một loại phản ứng, loại phản ứng này mạnh hơn loại phản ứng thứ nhất dẫn tới một số lượng lớn tế bào tăng, nhanh chóng hình thành tế bào hiệu ứng Tnhiềugấp mấy lần.
Do vậy, người bệnh gan sau khi tiếp nhận điều trị tế bào gốc ở thời kỳ trị liệu cơ sở và thời kỳ trị liệu củng cố, tế bào hiệu ứng miễn dịch T dài hạn có trong cơ thể người sẽ tiếp tục phát huy tác dụng, tiêu diệt virut bệnh gan, cho tới khi toàn bộ chỉ số các hạng mục đạt tiêu chuẩn. Cũng sẽ giải quyết được vấn đề chữa lâu nhưng không khỏi và tình trạng bệnh tái phát của người mắc bệnh gan
Hiệu quả của điều trị bệnh viêm gan B bằng tế bào gốc mặc dù rất tốt, nhưng tiêu chuẩn nhận điều trị rất nghiêm ngặt, chỉ có người bệnh viêm gan B trong phạm vi tiêu chuẩn nhận điều trị tiếp nhận trị liệu mới có thể đạt được hiệu quả tốt, do vậy mong các bạn thông qua tư vấn trên mạng để biết rõ mình có phù hợp với điều trị bằng tế bào gốc không.
Trường hợp bình thường, phạm vi thích hợp để dùng liệu pháp miễn dich bằng tế bào gốc
- Người mắc bệnh viêm gan C, viêm gan B nặng từ 31 kg trở lên (tuổi từ 16 -65)
- Người mắc bệnh xơ gan nặng có triệu chứng thiếu máu trầm trọng, xuất huyết đường tiêu hóa, phù thũng thì không dùng được liệu pháp này.
- Viêm gan tính miễn dịch tự thân, viêm gan do thuốc, và viêm gan do rượu thì không thuộc phạm vi điều trị này.
- Người bị bệnh tâm thần, bệnh AIDS, bệnh lao, u ác tính và người mắc bệnh tim thận nặng, người mắc bệnh về máu thì không được dùng phương pháp điều trị này.
- Người có tiền sử dị ứng nặng với tiêm truyền thì không thể điều trị.
- Men gan (ALT) ≤500U/L; Bilirubin toàn phần(TBIL) ≤40umol/L
- Nữ giới không trong thời kỳ mang thai và thời kỳ cho con bú, người bệnh đang ở độ tuổi sinh đẻ khi tiếp nhận điều trị cần phải tránh thai.
         3. Liệu pháp miễn dịch tế bào gốc không cần tiêm, không cần uống thuốc
Đối với việc điều trị bệnh gan, mọi người sau khi đã thu được nhiều kinh nghiệm thành công và những bài học thất bại mới nhận thức được vấn đề cốt lõi của điều trị viêm gan B là khả năng kháng virut và sức miễn dịch của người bệnh, điều này đã được giới học thuật có cùng nhận thức
Điều trị bằng tế bào, không cần tiêm, không cần uống thuốc, tránh được thương tổn cho gan do thuốc và tác hại ngược lại sau khi dừng thuốc, đạt được mục tiêu loại bỏ virut thông qua việc nâng cao tổng thể sức miễn dịch vốn có và tăng cường khả năng kháng virut, đồng thời lại đơn giản, tiện lợi, không có tác dụng phụ nên nhận được sự coi trọng của người bệnh.
Xem thêm các chủ đề khác:

Tế bào gốc điều trị bệnh gan như thế nào


Biểu hiện bệnh gan: vàng dabuồn nônnghiện rượu

Mọi người đều có khả năng bị nhiễm virut viêm gan, tại sao lại có những người luôn luôn an toàn không sao cả? Điều này là do hệ thống miễn dịch của cơ thể đang phát huy vai trò to lớn của nó. Ngược lại, người đã mắc bệnh gan mà chữa lâu không khỏi, vấn đề cũng nằm ở hệ thống miễn dịch, mà tế bào miễn dịch không tiêu diệt virut, trong y học gọi là “khoang dung miễn dịch”, do đó dẫn tới bệnh tình phát triển và chữa lâu nhưng không khỏi. Vì vậy, về cơ bản muốn giải quyết vấn đề này thì phải phá vỡ khoang dung miễn dịch, hồi phục chức năng tế bào miễn dịch của cơ thể, kích hoạt và tăng cường khả năng miễn dịch chống virut. Sử dụng tế bào của người bệnh để tiêu diệt và loại bỏ virut thông qua tác dụng nội lực đã trở thành biện pháp giải quyết trước mắt có hiệu quả nhất đối với “khoang dung miễn dịch” mà các loại thuốc cũng đành phải bó tay.
Người mắc bệnh gan nếu như bệnh tình liên tục phát triển không ngừng, thì sẽ phải làm kiểm tra đột biến gen virut viêm gan.
Hiện nay, phòng khám của chúng tôi đang liên kế hợp tác với 1 bệnh viên quân đội nổi tiếng của Trung Quốc, viện 303 ( nơi bác Hồ đã từng điều trị). Viện 303 là cơ sơ đầu tiên sở hữu kỹ thuật “kiểm tra tính biến dị virut viêm gan” VICTOR2 của Mỹ, giúp cho bác sỹ và bệnh nhân hiểu được một cách chính xác bệnh tình, tránh được trường hợp chuẩn đoán nhầm.
CẤU TẠO BỘ GEN HBV


Ví dụ như: đột biến vùng gen P (Polymerase)chủ yếu gặp ở người uống thuốc nhóm nucleoside trong thời gian dài, tiếp tục uống có thể khiến cho bệnh tình càng trở nên nghiêm trọng; đột biến vùng gen C kiểm tra không phát hiện ra kháng nguyên E ( HBeAg), bệnh nhân ( HBsAg,HBeAg,HBcAg dương tính) có thể kiểm tra cho kết quả là (HBsAg, HBcAg), những người bệnh này không thích hợp dung interferon; vùng gen X phát sinh tính biến dị, bệnh tình dễ phát triển thành viêm gan mãn tính, viêm gan tính bạo phát, xơ gan, có liên quan tới việc phát sinh ung thư gan; đột biến vùng gen X có thể gây ra HbsAg âm tính giả. Những trường hợp này đều có thể khiến cho bác sĩ hiểu sai tình trạng của người bệnh.
Thông qua các thiết bị tiên tiến như “kiểm tra đột biến gen virut viêm gan B” có thể kiểm tra một cách toàn diện tính biến dị của virut trong gan, từ đó có thể chuẩn đoán chính xác tình hình bệnh của bệnh nhân, giúp đưa ra phương án điều trị bằng tế bào gố hợp lý nhất.
Công nghệ điều trị viêm gan B bằng cách ghép tế bào gốc thông qua phá vỡ trạng thái khoang dung miễn dịch của người bệnh, trước tiên lấy một phần tế bào đơn nhân trong cơ thể người bệnh, thông qua phương pháp nuôi dưỡng ngoài cơ thể khiến cho số lượng tê bào sát thương miễn dịch tăng gấp hàng trăm lần, và giúp phân biệt tính đặc trưng của kháng nguyên, sau đó lại cho vào trong cơ thể người bệnh để tiêu diệt virut viêm gan B trong máu và tế bào gan.
Công nghệ tế bào gốc chính là dùng nguyên lý này để phát huy tác dụng. Nói một cách đơn giản chính là lấy tế bào đơn nhân trong cơ thể người bệnh, rồi nuôi dưỡng trong phòng thí nghiệm thành tế bào có tua (DC) , và tải lên thông tin kháng nguyên virut khiến cho số lượng của nó tăng lên gấp hàng trăm lần, tăng cường chức năng tiêu diệt virut, sau đó lại cho vào trong cơ thể người bệnh, hình thành số lượng lớn tế bào sát thương miễn dịch(CTL) nhằm vào virut viêm gan, tấn công có tính chủ động nhằm vào virut viêm gan có trong tế bào gan và máu. Liệu pháp này thật sự đã phá vỡ khoang dung miễn dịch mà giới y học bấy lây nay vẫn chưa giải quyết được, dung tế bào của mình để chữa bệnh của mình, thật sự đã thực hiện được điều trị cá thể hóa.
Hai đặc điểm nổi bật
- Có thể trì hoãn và ngăn chặn tiến trình gan xơ hóa và xơ gan, loại bỏ mối đe dọa đến tính mạng người bệnh từ bên trong.
- Có thể tiêu diệt virut viêm gan B, giúp cho một phần đáng kể bệnh nhân mắc viêm gan B co được mục tiêu điều trị trong thời gian ngắn.
Xem thêm các chủ đề khác

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Triển vọng của điều trị viêm gan B mãn tính bằng tế bào DC Phần III


Chuyên mục: Te bao goctế bào

Có học giả gần đây sau khi đem virut mang gen c HBV nuôi dưỡng cùng với DC của chuột, dùng PCR phát hiện ra sự hoạt động của gen c trong DC, và dùng phương pháp western blot phát hiện DC biểu đạt gen c HBV, loại DC chuyển hóa gen này thường biểu đạt phân tử CD80 và phân tử loại II MHC, trong cơ thể có thể dẫn tới phản ứng tế bào TH1 và CTL đặc dị kháng nguyên cốt lõi viêm gan B.
Những học giả khác đã tiến hành nghiên cứu đối với 19 bệnh nhân mắc viêm gan B mãn tính, họ lấy máu của người bệnh, sau khi lấy PBMC nuôi dưỡng DC trưởng thành, dùng HBsAg kích hoạt xong lại cho vào dưới da người bệnh, cứ 2 tuần 1 lần, cùng với điều trị hai lần, nghiên cứu kiểm tra chức năng gan, hệ thống kháng thể kháng nguyên virut viêm gan B, HBV-DNA của người bệnh, phát hiện đáp ứng virut ở 11 người bệnh xuất hiện mức độ không giống nhau, 7 người còn lại xuất hiện phản ứng sinh học. Cũng có học giả đã ứng dụng phương pháp tương tự nuôi dưỡng DC ngoài cơ thể để điều trị viêm gan B mãn tính đã có được hiệu quả tốt.
Kết luận thực nghiệm ở trên chứng tỏ rằng, thông qua nuôi dưỡng tế bào DC ngoài cơ thể, hoàn toàn có thể khắc phục được được trở ngại chức năng tế bào DC của người mắc bệnh viêm gan B, phá vỡ tính nhờn miễn dịch của người mắc bệnh gan, cuối cùng loại bỏ tất cả virut ở trong và ngoài gan. Điều trị virut viêm gan B có thể vì nhận thức tiến bộ vai trò và chức năng của DC mà có được sự phát triển nhanh chóng, tóm lại, điều trị miễn dịch bằng tế bào gốc đối với bệnh viêm gan B sẽ trở thành phương pháp trị liệu lâm sàng quan trọng, DC trong chiến lược điều trị sẽ ngày càng có vai trò quan trọng.
Xem thêm các chủ đề khác

Triển vọng của điều trị viêm gan B mãn tính bằng tế bào DC Phần II


Chuyên mục: Te bao goctế bào

Các học giả như Yukihiro Shimizu nghiên cứu triển vọng điều trị bằng tế bào DC đối với bệnh viêm gan B thông qua chuột được chuyển hóa gen: loại chuột này nhờn miễn dịch đối với virut viêm gan B, sau khi đem DC nuôi dưỡng ngoài cơ thể dùng HBsAg kích hoạt rồi lại cho vào trong tĩnh mạch đuôi của con chuột, phát hiện:


1. DC của loại chuột này được nuôi dưỡng ngoài cơ thể sản sinh ra khả năng kháng virut viêm gan B, hơn nữa loại DC kích hoạt này ở trong cơ thể chuột có thể kích hoạt tế bào CTL đặc trưng kháng nguyên, chứng minh tế bào trước CTL của loại chuột này là bình thường.
2. Chỉ cần có 100 DC được nhân tử tế bào kích hoạt xâm nhập vào trong cơ thể loại chuột này thì có thể phá vỡ tính nhờn miễn dịch đối với virut viêm gan B của chuột. mà những DC này biểu đạt chỉ số hoạt động và thụ thể , phân tử  kèm theo ở mức độ bình thường, biểu hiện ra tá dụng trình diện và đệ trình kháng nguyên thông thường.
3. DC của loại chuột này bất luận về hình thái hay chức năng thì đều bình thường, hơn nữa sau khi kích hoạt có thể đệ trình thể phức hợp phân tử loại I MHC và kháng nguyên virut viêm gan B. Tế bào CTL cần phải có tính hiệu mới có thể được kích hoạt, trong thực nghiệm loại tín hiệu này có từ tế bào DC được kích hoạt ở bên ngoài cơ thể.

Triển vọng của điều trị viêm gan B mãn tính bằng tế bào DC Phần I


Chuyên mục: tế bào gốctế bào

Tế bào tua (Dendritic Cells , DC DC) là một loại tế bào trình diện kháng nguyên (Antigen-presenting Cells, APC) quan trọng trong cơ thể người, đặc điểm sinh học chung của chúng là có rất nhiều hình dạng giống cành cây nổi lên trên bề mặt tế bào, trong tế bào có các ti thể, và và chức năng trình diện tế bào B và các đại thực bào không giống nhau, chỉ có DC mới có thể kích hoạt tế bào T sơ khai, và truyền tải thông tin kháng nguyên có liên quan đến cho nó, giúp nó phân hóa và kích hoạt thành tế bào lympho T (CTL)     gây độc tế bào kháng nguyên đặc hiệu, tiếp đó ảnh hưởng tới hệ thống miễn dịch dịch thể và tế bào của cơ thể, do vậy DC được coi là nhân tố khởi động cho phản ứng miễn dịch của cơ thể.
Ralph Sterman – nhà sinh lý học người Canada đã được nhận giải thưởng Nobel năm 2011 nhờ phát hiện ra tế bào DC này. Viêm gan B là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất ở nước ta. Trong nước đã có bác sỹ lâm sàng đang tích cực nghiên cứu đánh giá đặc trưng sinh vật học của DC và chức năng, số lượng và ý nghĩa lâm sàng của DC đối với bệnh nhân mắc bệnh viêm gan B và mối quan hệ của nó với các tế bào miễn dịch khác. Bệnh viện giải phóng quân 303 – đơn vị hợp tác với phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã Hà Nội (nơi Bác Hồ đã từng điều trị) đã bắt đầu ứng dụng nuôi dưỡng ngoài cơ thể và đem DC đã được tác động bởi kháng nguyên peptid HBV cho lại vào cơ thể để điều trị viêm gan B.


Loại bỏ virut viêm gan B phụ thuộc vào sự lớn mạnh, tính đặc dị của tế bào T gây độc tế bào CD8 và tế bào phụ trợ T CD4 để chống lại kháng nguyên bề mặt virut, kháng nguyên lõi và kháng nguyên protein P. Mà tế bào T hiệu ứng thông qua thông qua bài tiết nhân tử lympho có thể làm gián đoạn sự sao chép của virut mà không làm tổn thương tới tế bào gan, những tế bào T hiệu ứng này cần kháng nguyên đề trình APC, phân tử MHC, phân tử kích hoạt đồng thời cùng kích hoạt CD40, CD80, CD86, chỉ có DC mới có thể trực tiếp kích hoạt tế bào T sơ khai, thúc đẩy Th1 và Th2 phân hóa , tăng cường chức năng tế bào CTL.
Có nghiên cứu cho rằng lây nhiễm viêm gan B mãn tính thời gian dài có quan hệ với thiếu CTL. Đây chỉ là biểu hiện, những trường hợp này đều liên quan tới sự cản trở chức năng DC. Biện pháp duy nhất chính là nuôi dưỡng DC ngoài cơ thể và dùng peptid kháng nguyên của HBV tác động vào, và giúp nó hồi phục truyền tải chức năng thông tin kháng nguyên virut viêm gan B
Xem thêm các chủ đề:

TẠI SAO KHÔNG THỂ CHỮA KHỎI ĐƯỢC BỆNH VIÊM GAN B Phần II


Chuyên mục: Tế bào gốcTế bào

Quay lại Tại sao không thể chữa khỏi được bệnh viêm gan B phần I chúng ta xem tại sao rất nhiều người mắc bệnh viêm gan B mang virut trong thời gian dài nhưng chữa lâu rồi mà không khỏi? Không nghi ngờ gì nữa, khâu miễn dịch thông thường của bộ phận bệnh nhân này đã xuất hiện trở ngại, vì vậy xuất hiện hiện tượng hệ thống miễn dịch và virut viêm gan B và chung sống hòa bình, trong y học hiện tượng này gọi là “khoang dung miễn dịch”. Khoang dung miễn dịch cũng có tính hai mặt: ở bệnh nhân có thể lực kém và trẻ sơ sinh có thể loại bỏ phản ứng miễn dịch mạnh khiến cho tế bào gan bị tổn thương nặng, nhưng khoang dung miễn dịch đồng thời cũng mang lại cục diện cùng chung sống lâu dài giữa virut và hệ thống miễn dịch, từ đó hình thành nên bệnh nhân mang virut trong thời gian dài nhưng điều trị lâu mà không khỏi, thậm chí khiến cho bệnh tình chuyển biến theo hướng xấu, nghiên cứu gần đây chứng minh, nguyên nhân chủ yếu của khoang dung miễn dịch người mắc bệnh viêm gan B chính là chức năng của tế bào tua xuất hiện trở ngại, nó không thể truyền đạt thông tin kháng nguyên HBV cho tế bào lympho T cấp tiếp theo, vì vậy không thể gây ra sát thương miễn dịch mang tính đặc dị.


Cho thấy, cần phải phá vỡ loại cuc diện điều trị lâu mà không khỏi này, thì phải phá vỡ khoang dung miễn dịch, mà vấn đề then chốt để phá vỡ khoang dung miễn dịch không phải là tăng cường khả năng miễn dịch, thực tiễn chứng minh thuốc Đông y, Tây y có tác dụng miễn dịch mạnh không thể giải quyết vấn đề. Vấn đề then chốt ở đây là làm thế nào để hồi phục chức năng truyền tải thông tin kháng nguyên HBV của tế bào tua (DC).
Thế là các nhà khoa học chỉ ra rằng, có thể đem tế bào DC nuôi dưỡng ngoài cơ thể, và tăng cường các chức năng khác không? Liên quan tới “tế bào tua” gần đây là chủ đề nóng của nghiên cứu trong và ngoài nước.
Bệnh viện giải phóng quân 303 (nơi đã từng điều trị cho Bác Hồ) qua nhiều năm nghiên cứu, đang đưa tế bào tua (DC) nuôi dưỡng dùng để điều trị HPV (Human Papilloma Virus), trên cơ sở HSV (Herpes Virus), thành công đem kỹ thuật này để điều trị viêm gan B đã có được thành tích nổi bật. Nguyên lý cơ bản của nó là: tế bào đơn nhân lấy ra từ cơ thể người bệnh, tiến hành nuôi dưỡng có định hướng trong phòng thí nghiệm, khiến cho nó phát triển thành tế bào tua (DC), lại dùng peptid biểu vị kháng nguyên ưu thế HBV để tấn công DC, DC lại thông qua phức hệ hòa hợp mô chủ yếu để truyền tải thông tin kháng nguyên của HBV.
Sau đó đem tế bào DC đã được nuôi dưỡng trưởng thành cho lại vào cơ thể người bệnh, gây ra hiệu ứng lympho T trong cơ thể người bệnh. CTL được sản sinh sẽ tấn công virut viêm gan một cách chủ động, có mục tiêu, đặc dị. Cuối cùng tiêu diệt được hết virut trong máu, trong gan và trong các cơ quan khác, giúp cho bệnh tình có chuyển biến tốt, cuối cùng sẽ được chữa khỏi. Thành công của phương pháp trị liệu này là đã giải quyết được trở ngại trong khâu miễn dịch của người mắc bệnh viêm gan B, phá vỡ được khoang dung miễn dịch, giúp cho những người mắc bệnh viêm gan B hồi phục được sức khỏe.
Xem thêm các chuyên mục khác