Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Những phát minh mới về tế bào gốc


Nhà nghiên cứu te bao  goc, giáo sư Shinya Yamanaka, người đồng nhận giải Nobel Y học năm 2012, ngày 7/12 đã thể hiện quyết tâm sử dụng tế bào gốc đa năng nhân tạo (iPS) để chữa trị những căn bệnh suy nhược mà đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị hiệu quả.

Trong bài giảng hàng năm tại Viện Karolinska ở Stockholm, Thụy Điển, trước lễ trao giải Nobel ngày 10/12 tới, nhà khoa học Nhật Bản đã chia sẻ câu chuyện thú vị dẫn đến phát hiện khoa học quan trọng, đó là sản xuất thành công iPS nhờ hàng loạt những khám phá ngoài mong đợi.
Trước khi kể về những phát hiện thú vị từ các bài thí nghiệm mà các thầy đã giao cho ông, giáo sư Yamanaka chia sẻ: “Tôi có hai người thầy lớn trong những ngày đầu làm khoa học”.Người thầy đầu tiên chính là tuýp người như Giáo sư Katsuyuki Miura Đại học Thành phố Osaka và Tom Innerarity, thời điểm đó là điều tra viên cấp cao tại Viện Gladstone, Mỹ. Yamanaka cho biết hai người này luôn biết động viên và khích lệ các nhà khoa học trẻ ngay cả khi những kết quả trong thí nghiệm đều cho kết quả mâu thuẫn với giả thuyết mà họ đưa ra. Ông cho biết ông đã cố gắng làm một người thầy tốt giống như họ nhưng điều đó quả thật “rất khó”.
Một người thầy lớn khác “chính là thiên nhiên” – “người” đã mang lại cho Yamanaka những kết quả ngoài mong đợi, cũng là “người” đã mang lại cho ông các kế hoạch hoàn toàn mới mẻ.
Giáo sư Shinya Yamanaka
Giáo sư Shinya Yamanaka
Nhà khoa học Nhật Bản này cho biết lần đầu tiên ông đã không thể hình dung được là sẽ mất bao lâu trước khi xác định được các nhân tố then chốt cần thiết để tái lập trình các te bao sinh dưỡng thành tế bào iPS. Ông cũng từng băn khoăn rằng liệu có thể sẽ phải mất tới “10, 20, 30 năm hoặc thậm chí có thể còn lâu hơn nữa” để đi đến khám phá này. Tuy nhiên, cuối cùng thì nhóm của ông chỉ mất có 6 năm trước khi đạt được đột phá quan trọng vào năm 2006 khi Yamanaka phát hiện ra một lựa chọn khác với việc phải phá huỷ các phôi người, từ đó xua tan những trở ngại về mặt luân lý và đạo đức trong công nghệ tế bào gốc.
Giáo sư Yamanaka, 50 tuổi, đã cho phép các nhà nghiên cứu trẻ làm việc tại phòng thí nghiệm của mình, đặc biệt là Kazutoshi Takahashi, một giảng viên đại học Kyoto, và hai nhà nghiên cứu khác nhằm tăng tốc cho khám phá mới của mình. Ông nói: “Nếu không có những cống hiến hết mình của ba người đó, chúng ta có thể sẽ không bao giờ sản xuất được tế bào gốc iPS, ít nhất là ngay trong phòng thí nghiệm của mình… Tôi cảm thấy vô cùng tự hào về các khoa học trẻ”.
Yamanaka cũng cho biết những nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng tế bào gốc iPS (CiRA) của đại học Kyoto, một viện nghiên cứu do ông làm Viện trưởng, được cho là sẽ giúp kiểm tra các điều kiện và sàng lọc các loại thuốc cho các căn bệnh liên quan đến tế bào thần kinh vận động như bệnh xơ cứng cột bên teo cơ, một căn bệnh về suy yếu hoạt động của hệ cơ hiện chưa có phương thuốc nào chữa trị đặc hiệu.
Trước đó một ngày, nhà khoa học John Gurdon, 79 tuổi, người đồng nhận giải Nobel Y học với Yamanaka năm nay và là giáo sư danh dự Đại học Cambridge, cũng đã có bài giảng thường niên. Yamanaka cho biết ông cảm thấy rất vinh dự khi được chọn là người cùng nhận giải thưởng với Giáo sư Gurdon, người khai phá ra lĩnh vực tái lập trình hạt nhân cách đây nửa thế kỷ, thời điểm Yamanaka mới ra đời.
Sau bài giảng, Giáo sư Yamanaka cho biết ông đã phần nào bớt căng thẳng khi đã hoàn thành một trong những sự kiện quan trọng trong chuyến thăm của mình tới Stockholm và tự chấm“60% điểm” trong bài giảng bằng tiếng Anh của mình. Vợ của Yamanaka, bà Chika, 50 tuổi, cho biết bà cảm thấy xúc động khi lắng nghe bài giảng của chồng vì nó khiến bà nhớ lại nhiều kỷ niệm.
Xem thêm các chuyên mục khác:

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Biểu hiện bệnh vàng da ở trẻ em


Bệnh vang da ở trẻ sơ sinh

Bác sĩ cho tôi hỏi cháu nhà tôi sinh được hơn một tháng rồi nhưng giờ cháu vẫn chưa hết vàng da . Khi cháu được gần một tháng tôi đã cho cháu đi khám tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện và được bác sĩ khoa nhi chuẩn đoán là cháu bị vàng da sinh lý kéo dài nhưng ko vấn đề gì và bác sĩ dặn về tắm nước lá cây dành dành vài buổi là hết . Tôi đã làm như vậy và thấy cháu đỡ vàng hợn Nhưng từ hôm tôi cho cháu đi tiêm phòng viêm gan B mũi một về thì tôi lại thấy cháu vàng hơn . Vậy tôi phải làm gì để cháu hết vàng da và cháu nhà tôi bị như vậy có ảnh hưởng gì tới sức khỏe không ạ ? xin chân thành cảm ơn bác sĩ !

Trả lời: 
Vàng da sinh lý xảy ra với hầu hết trẻ mới sinh, thường xuất hiện từ ngày thứ 2 sau khi sinh. Trẻ vẫn ngoan, ăn ngon, ngủ tốt: Nước tiểu và phân vàng, mỗi ngày trẻ đi từ 2 đến 3 lần. Đến ngày thứ 10 – 15 da tự hết vàng mà không phải điều trị. Vàng da sinh lý không ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ và không gây nguy hiểm. Trẻ bị vàng da sinh lý là do khi nằm trong bụng mẹ, cơ thể trẻ có lượng hồng cầu cao (khoảng 5 – 6 triệu hồng cầu/mm3). Khoảng 2 ngày sau sinh, khi trẻ đã có thể tự thở tốt được, lượng hồng cầu thừa bị vỡ hàng loạt làm tăng chất bilirubin trong máu. Chất bilirubin này được chuyển về gan, chuyển hoá ở đó rồi được thải ra ngoài qua đường bài tiết, da trẻ sẽ hết vàng. Ngoài nguyên nhân hồng cầu bị vỡ, trẻ mới sinh bị vàng da còn có thể do trong sữa mẹ có nhiều beta caroten (tiền tố vitamin A) vì chế độ ăn hằng ngày của người mẹ có quá nhiều rau xanh hoặc hoa quả có màu như cà rốt, đu đủ.
Một số phương pháp điều trị bệnh vàng da
Chiếu đèn:
Được chỉ định đối với trẻ (có cân nặng trên 2,5kg) có nồng độ bilirubin trong máu vào ngày thứ nhất: 40mg/l; ngày thứ 2: 130mg/1; ngày thứ 3: 160mg/l.
Dùng nguồn ánh sáng mầu xanh dương từ bóng đèn compact, hallogen tác động lên các phân tử bilirubin ở dưới da trẻ. Các phân tử này bị biến thành các dạng đồng phân quang học, không độc, tan trong nước, dễ dàng được thải qua nước tiểu. Chiếu đèn liên tục từ 3 – 15 ngày, tuỳ theo mức độ của bệnh. Có thể cho trẻ chiếu đèn trong lồng ấp, giữ nhiệt độ từ 30 – 32oC. Cân nặng của trẻ càng thấp, nhiệt độ trong lồng ấp càng cao.
Lưu ý khi chiếu đèn: cần cho trẻ uống thêm nước, bú nhiều để bổ sung nước cho cơ thể. Hoặc truyền thêm dung dịch đường 10%.
Làm gì khi trẻ bị vàng da 
Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh có thể dễ dàng quan sát bằng mắt thường ở nơi có đủ ánh sáng: cạnh cửa sổ, ngoài hành lang… Trong trường hợp khó nhận biết như da trẻ đỏ hồng hoặc đen, nên dùng đầu ngón tay ấn nhẹ lên da trẻ trong vài giây, sau đó bỏ tay ra.
- Nếu trẻ bị vàng da ở mức độ nhẹ có thể điều trị tại nhà bằng cách tắm nắng: đặt trẻ gần cửa sổ nơi có ánh nắng dịu của mặt trời (vào khoảng 8 giờ đến 8 giờ 30 mỗi sáng).
- Cho trẻ bú nhiều lần trong ngày vì sữa mẹ giúp đào thải nhanh chất bilirubin qua đường tiêu hoá.
- Hằng ngày, cần theo dõi các vùng lan rộng của bệnh vàng da và các triệu chứng xuất hiện kèm theo. Theo dõi liên tục trong vòng 7 – 10 ngày sau sinh. Cần đưa ngay trẻ đến khám bác sĩ trong trường hợp:
- Bú ít hơn một nửa so với bình thường.
- Nước tiểu trong.
- Ngủ nhiều.
- Vàng da xuất hiện sớm, trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
Vàng da lan đến bàn tay, bàn chân.
Vàng da kéo dài trên 15 ngày.
Theo chúng tôi, bạn nên đưa bé đi khám để được tư vấn sau quá trình thăm khám trực tiếp.
Xem thêm các chủ đề khác:

Xử trí khi bị buồn nôn


Buồn nôn và nôn không phải là một bệnh mà là triệu chứng biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau. Buồn nôn, nôn, có thể chỉ là hiện tượng sinh lý hoặc một phản xạ nhưng nhiều trường hợp là biểu hiện bệnh lý, thậm chí là bệnh lý nguy hiểm.
Nguyên nhân gây buon non, nôn
Buồn nôn và nôn đều do hệ thống thần kinh trung ương chi phối. Nhiều trường hợp nôn không có thức ăn do dạ dày đã hết thức ăn hoặc do nôn nhiều nên dạ dày đã rỗng mà chỉ toàn nước hòa lẫn với dịch vị hoặc chỉ nôn mà không có gì cả (nôn khan).
Buồn nôn hoặc nôn có khi chỉ là hiện tượng sinh lý, như: nôn ở phụ nữ đang mang thai (thường gặp ở giai đoạn 3 tháng đầu). Một số trường hợp khi nhìn thấy chất bẩn hoặc ngửi thấy mùi tanh, hôi hoặc nhìn thấy thức ăn không phù hợp với cảm nhận của mình (rối loạn do ăn, uống) là bị buồn nôn và nôn hoặc say tàu xe. Một số người rất ngại uống thuốc, vì vậy khi nhìn thấy thuốc sắp đưa vào miệng là cảm giác buồn nôn hoặc khi cho thuốc vào miệng là nôn ngay…
 Buồn nôn đôi khi là dấu hiệu nguy hiểm
Tuy vậy, buồn nôn hoặc nôn gặp khá nhiều trong một số bệnh lý, đặc biệt là bệnh về đường ruột. Bệnh về đường ruột gây buồn nôn hoặc nôn có nhiều loại bệnh khác nhau như bệnh của dạ dày – tá tràng. Bệnh của dạ dày tá tràng cũng rất đa dạng như: viêm, loét, hẹp môn vị. Trong những trường hợp viêm cấp tính thường có buồn nôn hoặc nôn. Hẹp môn vị cũng là bệnh gây buồn nôn và nôn do ứ đọng dịch vị kích thích niêm mạc dạ dày gây buồn nôn và nôn. Hẹp môn vị có thể do viêm cấp, hoặc do tổn thương thực thể như bị loét gây co kéo, hoặc do chèn ép, do chảy máu bởi vết loét…). Bệnh về đường ruột cũng có thể là viêm ruột cấp do ngộ độc thức ăn hoặc do như tắc ruột, viêm ruột thừa hoặc bị bị chèn ép do khối u (u manh tràng, lao phúc mạc, lao ruột…). Bệnh tắc ruột, viêm ruột thừa là những bệnh mà buồn nôn và nôn là những triệu chứng thường hay gặp, với các bệnh này mà không phát hiện sớm và xử lý kịp thời thì rất nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh. Bệnh về đường mật như viêm đường dẫn mật, sỏi đường dẫn mật (sỏi đường mật trong gan, ống mật chủ, sỏi cổ túi mật, sỏi túi mật…) hoặc bệnh về tuỵ tạng như viêm tuỵ cấp, u đầu tuỵ cũng có khả năng gây buồn nônhoặc nôn.
Một số bệnh như rối loạn tiền đình, rối loạn tuần hoàn não, viêm não, u não cũng gây buồn nôn, nôn. Ngoài ra, người ta thấy có một số trường hợp dùng thuốc có tác dụng phụ cũng gây buồn nôn hoặc nôn thực sự, như thuốc dùng trong điều trị ung thư, thuốc gây tê, thuốc gây mê. Người uống rượu, bia cũng bị hiện tượng này nhất là lúc uống quá nhiều do cồn có trong bia rượu khi vào dạ dày đã tạo thành chất gây buồn nôn, nôn hoặc do niêm mạc dạ dày bị kích thích quá mạnh gây viêm cấp cũng gây buồn nôn và nôn.
Khi bị buồn nôn nên làm gì?
Hiện tượng nôn, buồn nôn ở nhiều trường hợp khác nhau có khi chỉ là đơn thuần nhưng không ít trường hợp là trọng bệnh, nhất là buồn nôn và nôn trong các bệnh ngoại khoa như viêm ruột thừa, rò rỉ đường dẫn mật do viêm hoặc do sỏi gây viêm phúc mạc, tắc ruột, u nang buồng trứng vỡ, chửa ngoài dạ con… hoặc một số bệnh gây buồn nôn như viêm màng não – não, u não… Đặc biệt, khi trẻ em bị nôn thì người lớn không được xem thường mà phải hết sức cảnh giác. Nếu trẻ buồn nôn hoặc nôn bất thường cần được đến ngay cơ quan y tế gần nhất lớn đến tính mạng.
Những trường hợp buồn nôn, nôn gặp ở bệnh nguy hiểm hoặc ở bệnh không nguy hiểm cũng để lại hiện tượng mất nước và chất điện giải gây rối loạn vận mạch và nhiều hệ luỵ khác nữa. Những trường hợp buồn nôn hoặc nôn không phải thuộc bệnh ngoại khoa thì nên được bù nước và chất điện giải, nếu không uống được (do bị nôn) thì cần được truyền dịch. Tuy vậy có phải truyền dịch hay không và truyền như thế nào phải do bác sĩ khám bệnh quyết định. Tuyệt đối không truyền dịch tại gia đình hoặc ở một số phòng khám tư nhân không đủ điều kiện cấp cứu.
Nếu phụ nữ đang mang thai có buồn nôn hoặc nôn (do nghén) thì nên đi khám bác sĩ chuyên khoa sản để được tư vấn và có can thiệp kịp thời. Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu nếu dùng một số loại thuốc chống nôn, phải được bác sĩ sản khoa khám, kê đơn và theo dõi chặt chẽ.
xem thêm các chủ đề:

Lạm dụng rượu


Chuyên đề: Nghiện rượu
“Một món ăn vừa có thể là một liều thuốc bổ và cũng có thể là một thuốc độc. Sự khác biệt chỉ đơn giản là liều lượng”.
Rượu với những liều lượng vừa phải là một chất kích thích thần kinh, đem lại cho người uống cảm giác khoan khoái dễ chịu quên đi những khó khăn vất vả trong cuộc sống. Vì vậy rượu được dùng hàng ngày và trong các dịp lễ tết, hội hè ở nhiều dân tộc trên thế giới. Việc uống rượu thường xuyên hay uống để tuân thủ các tập tục trong giao tiếp, lễ nghi… dễ trở thành lạm dụng rượu và nghiện rượu.


* Thế nào là lạm dụng rượu?

Một người uống rượu chưa hẳn đã nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại đến sức khỏe của họ. Vậy là uống rượu để vô tình hay chỉ là để tuân thủ tập tục, gây hại cho sức khỏe của mình, những trường hợp như thế được coi là lạm dụng rượu (Alcohol abuse). Việc nhận thức được ý nghĩa này, thực chất là nhằm ngăn chặn sớm tác hại của rượu, nâng cao cảnh giác cho mọi người trong cộng đồng nhiều khi vì thói quen, tuân thủ tập tục, dễ dàng biện hộ cho những hành vi mang tính chất lễ nghi, quên mất rằng mình đang “lạm dụng rượu” trong giao tiếp, hội hè.
Việc đánh giá lạm dụng rượu thông qua hậu quả về sức khỏe của chính bản thân đối tượng như: hiện tượng ngộ độc rượu cấp (say rượu thông thường và say rượu bệnh lý), hậu quả về bệnh cơ thể, hiện tượng khó chịu mệt mỏi.
Phương thức sử dụng có hại được đánh giá bởi những người xung quanh như hiện tượng gây rối trật tự gia đình, chống đối xã hội ở những mức độ khác nhau.
* Tác hại tức thì khi uống rượu
- Mất khả năng kiềm chế để giữ gìn ý tứ.
- Giảm hoặc mất khả năng điều phối hoạt động (Phản ứng chậm chạp, đờ đẫn, loạng choạng…).
- Giảm khả năng nhận thức giác quan (nhìn, nghe, ngửi) do đó dẽ bị tai nạn, va chạm trong sinh hoạt.
- Suy yếu chức năng đại não và hoạt động bền bỉ của hệ thần kinh, do đó dễ mệt mỏi hoặc hung hăng, cục cằn không kìm chế được.
* Tác hại lâu dài của rượu
- Giảm hoặc mất sự thèm ăn uống.
- Thiếu vitamine do không hấp thu được, đặc biệt là các vitamine nhóm B, dẫn đến viêm đa dây thần kinh, hay uể oải mệt mỏi, thiếu sinh lực.
- Viêm loét niêm mạc dạ dày.
- Tổn thương thoái hóa gan, xơ gan, viêm tụy cấp.
- Bệnh lý tim mạch.
- Thoái hóa, suy đồi nhân cách (vị kỷ, thô lỗ, buông lơi trách nhiệm với gia đình và xã hội).
- Rối loạn nội tiết (giảm khả năng tình dục) ; rối loạn chuyển hóa (bệnh gút).
- Ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi.
* Thế nào là nghien ruou?
Nghiện rượu theo ý niệm xã hội là sự thèm muốn mạnh mẽ dẫn đến đòi hỏi thường xuyên phải uống rượu, đưa đến rối loạn tư cách, thói quen, khả năng lao động và giao tiếp xã hội; ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe và sự thoải mái của cộng đồng cũng như sự hao tổn về mặt kinh tế.
Còn nghiện rượu trong ý nghĩa y học là một loại bệnh, xếp trong nhóm bệnh lý nghiện chất, được mã hóa trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi. Một người được coi là nghiện rượu khi có 3 trong 6 biểu hiện sau:
1. Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải có rượu.
2. Khó khăn kiểm tra về thời gian bắt đầu uống và kết thúc uống cũng như mức độ uống hàng ngày.
3. Khi ngừng uống rượu thì xuất hiện hội chứng cai, cụ thể: lo âu, vã mồ hôi, trầm cảm, cáu bẳn…và bệnh nhân có ý định uống rượu trở lại để né tránh hoặc giảm nhẹ hội chứng cai.
4. Có bằng chứng về lượng rượu uống ngày càng tăng (khả năng dung nạp).
5. Sao nhãng những thú vui trước đây, dành nhiều thời gian để tìm kiếm rượu, uốngrượu.
6. Vẫn tiếp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu gây ra.
Thực tế, phong tục uống rượu ở nước ta có từ lâu trong các dịp lễ tết…Những năm gần đây, rượu được sử dụng một cách rộng rãi trong cả ngày thường. Nhiều người coi rượu là một chất bổ dưỡng, kích thích tiêu hóa, một phương thức để giao tiếp, họ sử dụng thường xuyên thực chất là lạm dụng rượu, lâu ngày dẫn đến nghiện rượu. Rượu ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý lứa tuổi thanh niên, phát sinh các tệ nạn xã hội, làm giảm sút kết quả lao động, học tập, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và nòi giống dân tộc. Rượu cũng đã làm giảm sút tư cách, ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ công chức trong nhân dân. Sự gia tăng nhanh loạn thần do rượu trong những năm gần đây là một chỉ số cảnh báo tình trạng lạm dụng rượu và nghiện rượu trong cộng đồng cần có biện pháp can thiệp sớm nhằm ngăn chặn kịp thời các tác hại của rượu.
H.T.M có một sự khởi đầu mà ai cũng phải ao ước. Tốt nghiệp đại học loại ưu chuyên ngành quản trị kinh doanh, anh nhanh chóng được nhận vào làm tại một doanh nghiệp tầm cỡ tại Hà Nội. Cùng với năng lực và sức trẻ của mình, anh nhanh chóng thăng tiến. Công việc mang lại cho anh những phương tiện, tiện nghi trong cuộc sống và những cuộc chiêu đãi gần như bất tận. Và cũng không biết tự bao giờ anh quen dần với việc phải có “tí men” trong người thì mới làm được việc. Từ việc sử dụng rượu như một nghi lễ trong giao tiếp, anh dần lạm dụng rượu và nghiện rượu lúc nào không hay và anh bị buộc phải thôi việc. Hiện tại, anh đang được cai rượu tại một bệnh viện ở Hà Nội.
Chuyên mục khác: